Kính ngữ dùng trong tiếng Hàn: “저희 나라”? “제 부인”?

Không riêng Việt Nam mà “kính ngữ” là một trong những đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ các nước phương Đông. Do ảnh hưởng của Nho giáo, người Hàn Quốc từ lâu đã có truyền thống tôn trọng phép tắc lễ nghĩa, tôn ti trật tự. Tục ngữ Hàn có câu “찬 물도 위 아래 있다” (Nước lạnh cũng có trên có dưới) để nhấn mạnh ý thức sống phải “biết trên biết dưới” trong xã hội.

- Mách bạn cách học tiếng Hàn tốt nhất.http://hoctienghanquoc.org/tin-tuc/Goc-Chia-Se/Mach-ban-cach-hoc-tieng-Han-de-nhat-332/.
Kính ngữ trong tiếng Hàn được dùng để thể hiện sự kính trọng với người trên, các đối tượng xã hội hoặc trong các trường hợp trang trọng. Trong tiếng Việt, để dùng “kính ngữ” chỉ cần tuân thủ một số phép tắc đơn giản như: đảm bảo đầy đủ chủ ngữ – vị ngữ trong câu, thể hiện kính ngữ qua các đại từ nhân xưng, các từ kính ngữ ở đầu (Thưa, Kính thưa) hoặc ở cuối câu (ạ). Ngược lại, kính ngữ trong tiếng Hàn lại được chia làm nhiều cách phức tạp đòi hỏi người dùng phải phán đoán ngữ cảnh, đối tượng, mục đích giao tiếp mà sử dụng cho đúng. Kính ngữ trong tiếng Hàn được chia làm 3 dạng cơ bản là:


Kính ngữ với chủ thể
Kính ngữ với người nghe
Kính ngữ trong từ loại
Sau đây, chúng ta hãy cũng tìm hiểu cụ thể về 3 dạng kính ngữ trên.


1. Kính ngữ với chủ thể là hình thức thể hiện sự tôn kính với đối tượng đang được nói tới:


Ví dụ:


할머니, TV를 보십니까?
Bà ơi, bà đang xem ti vi phải không ạ?


사장님, 앉으십시오!
Xin mời giám đốc ngồi!


Qua hai ví dụ trên ta thấy, để thể hiện sự tôn trọng với đối tượng đang được nói tới trong câu thì người nói chỉ cần thêm vị tố “(으) 시” vào sau động từ:


동사 (Động từ) + 시 (Trường hợp động từ kết thúc là một nguyên tâm)
동사 + (으)시 (Trường hợp động từ kết thúc là 받침- phụ âm)


Trên đây là công thức sử dụng “kính ngữ” cơ bản nhất trong tiếng Hàn. Tuy nhiên, trong trường hợp nói về một người thứ 3 mà đối tượng được nói tới có địa vị, vai vế thấp hơn người nghe thì không dùng kính ngữ. Ví dụ:


할머니, 어머니가 집에 왔습니다.
Bà ơi, mẹ cháu đã về nhà rồi.


Hoặc trong công văn, hội nghị hay viết báo, để đảm bảo tính khách quan, người nói cũng không dùng kính ngữ mà dùng thể chung. Ví dụ:


김유신 장군은 삼국을 통일했습니다.
Tướng quân Kim Yoo Sin đã thống nhất ba nước.


2. Kính ngữ với người nghe được biểu đạt qua các thể kết thúc câu:


Tùy vào vai vế giao tiếp mà người nói sẽ lựa chọn các đuôi kết thúc câu cho thích hợp. Dạng kính ngữ này được chia thành hai loại: Thể qui cách (격식체) và Thể ngoài qui cách (외격식체).


Thể qui cách lại bao gồm thể cao (존대형), thể trung (중립형) và thể thấp (하대형). Tuy nhiên, tiếng Hàn khi đàm thoại thông thường sẽ sử dụng cả hai loại có qui cách và ngoài qui cách mà không có sự phân biệt rõ ràng. Người nói phải linh hoạt để lựa chọn cách nói phù hợp theo từng ngữ cảnh (trang trọng hoặc thân tình) để lựa chọn cách kết thúc câu thích hợp nhất.

- Lớp học tiếng Hàn tại Hà Nội.http://hoctienghanquoc.org/tin-tuc/Tieng-Han-Nhap-Mon/#.VqmLNU-M90w.
Đặc biệt với đại từ nhân xưng, để thể hiện sự kính trọng tiếng Hàn còn có phép “khiêm nhượng” (겸양법), tức người nói tự hạ thấp bản thân để thể hiện sự tôn trọng người nghe. Trong trường hợp này đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất “나” (tôi) được chuyển thành “저”, đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều “우리” (chúng tôi) được chuyển thành “저희”.


Ví dụ:


선생님, 저희 집에 한번 놀러오세요!
Mời cô giáo đến nhà chúng em chơi!


Tuy nhiên, phép khiêm nhượng này chỉ dùng cho các ngữ cảnh, đối tượng mang tính chất nhỏ lẻ, cá nhân và không được dùng cho trường hợp “저희 나라” (đất nước chúng tôi). Vì “저희” là cách nói nhún nhường, hạ mình trước đối phương nên nếu đặt từ này đứng trước, bổ nghĩa cho “나라” cũng đồng nghĩa với việc hạ thấp vị thế của dân tộc mình trước đối phương. Có rất nhiều người Hàn Quốc thậm chí cả những người nổi tiếng, diễn viên điện ảnh, MC… cũng đã nhầm lẫn do không ý thức được qui tắc trên. Nam diễn viên nổi tiếng Kwon Sang Woo trong một lần trả lời phỏng vấn trước phóng viên Nhật cũng đã phạm phải lỗi này khi phát biểu “저희 나라” thay vì nói “우리 나라”. Chỉ vì một từ “저희” mà cả cộng đồng mạng cũng như báo chí, các cơ quan ngôn luận Hàn Quốc đều xôn xao, lên tiếng, phê phán khiến tên tuổi và hình ảnh diễn viên này bị giảm sút một cách đáng kể. Thế mới biết, những nguyên tắc kính ngữ trong tiếng Hàn phức tạp và nhạy cảm đến nỗi có thể ảnh hưởng và đụng chạm tới “tự ái quốc gia” của cả một dân tộc.


Một trường hợp khác, khi giới thiệu với mọi người xung quanh về vợ của mình, thỉnh thoảng ta nghe có những người Hàn nói “제 부인” (Vợ tôi). Nhưng thực ra đây là cách nói không phù hợp, bởi “부인” (phu nhân) là từ kính ngữ được dùng khi biểu thị sự tôn trọng với vợ… người khác chứ không phải vợ của bản thân người nói. Với những ông chồng Hàn muốn “nịnh” vợ, có thể dùng biểu hiện này trong những ngữ cảnh riêng tư như: “오늘 내 부인이 예쁘네” (Hôm nay “phu nhân” của tôi đẹp quá nhỉ!), nhưng trong trường hợp giới thiệu vợ với người khác hoặc nói chuyện trước đám đông thì chỉ cần dùng từ “아내” hoặc “와이프” (wife).


Trong giao tiếp xã hội, để truyền tải đúng thông tin và tạo ấn tượng tốt cho người nghe, ta không chỉ cần chú ý tới cách cư xử, cử chỉ, điệu bộ mà ngôn ngữ sử dụng cũng cần có “cảm giác” và “độ nhạy” nhất định. Cảm giác ngôn ngữ không phải là những kiến thức được ghi trong sách vở mà là những kinh nghiệm có được khi chúng ta chịu khó “va vấp”, đi sâu tìm hiểu cuộc sống quanh ta.
- Nguồn tham khảo : http://hoctienghanquoc.org
- Mọi thông tin chi tiết mời các bạn liên hệ:
TRUNG TÂM TIẾNG NHẬT SOFL
Địa chỉ: Số 365 - Phố vọng - Đồng tâm -Hai Bà Trưng - Hà Nội
Email: nhatngusofl@gmail.com
Điện thoại: (84-4) 62 921 082 Hoặc: (84-4) 0964 66 12 88.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Học tiếng Hàn khó hay tiếng Anh khó hơn?

Tra cứu điểm thi TOPIK tiếng Hàn nhanh gọn lẹ chỉ trong 3 bước đơn giản dễ dàng.

Từ vựng tiếng Hàn về vật liệu xây dựng